Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đại học ở Việt Nam.

- Tự do học thuật: Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, các trường đại học ở Việt Nam cũng thiếu động lực tri thức ở một mức độ đáng kể. Ngay cả khi các trường đại học đang dần được phép nới lỏng hơn, vẫn có một mạng lưới các kiểm soát và kiềm chế chính thức và không chính thức để đảm bảo rằng các trường đại học vẫn tiếp tục suy tàn về tri thức trong khi các cuộc tranh luận trong xã hội ngày càng sôi nổi hơn.

- Đẩu tư cho giáo dục của chính phủ tuy có nhiều nhưng chưa hiệu quả. Trên thực tế, tính theo tỉ lệ trong GDP, Việt Nam chi nhiều cho giáo dục hơn nhiều nước khác trong khu vực. Con số này còn chưa tính đến số tiền lớn mà chính các gia đình Việt Nam đầu tư vào giáo dục cho con cái họ, ở nhà và ở nước ngoài. Nhưng tiêu tiền như thế nào lại là chuyện khác. Nhưng rào cản chính đối với việc cải cách giáo dục ĐH – CĐ lại không phải là chuyện tài chính.

- Chương trình đào tạo chưa hợp lý, nặng về lý thuyết, không coi trọng thực hành và thực tế. Trong chương trình đào tạo đại học còn lồng ghép quá nhiều tư tưởng chính trị không cần thiết. Phương pháp đào tạo, giảng dạy cũ kỹ không phát huy được tính tích cực chủ động cho sinh viên – những nhà nghiên cứu trẻ. Hệ thống đánh giá, phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo chưa hợp lý, chưa thật hiệu quả.

- Số lượng sinh viên ở một số trường hiện nay quá đông, có lúc tới 500 sinh viên trên đầu một giảng viên. Và việc phải dạy nhiều giờ để kiếm thu nhập bây giờ đã trở thành một “chuẩn mực” trong giáo dục đại học. Nhiều giảng viên phải dạy tới 30 giờ một tuần, khiến cho họ luôn ở trong tình trạng bị quá tải. Hiếm có giảng viên nào còn đủ sức lực và tâm huyết để dẫn dắt, kích thích óc sáng tạo của học sinh. Giờ học trở nên một sự lặp lại nhàm chán, thiếu hơi thở của thực tiễn. Khi đó, việc ra bài tập và làm bài kiểm tra, trở nên ít có ý nghĩa bởi chính tính giáo điều, khô khan của nội dung dạy. Khi mà số lượng bài tập và bài thi phải chấm lên tới con số hàng trăm, thậm chí hàng nghìn, thì người có trách nhiệm nhất cũng phải bó tay.

- Với cách dạy và học mang tính dập khuôn như vậy, thì việc rèn luyện kỹ năng tư duy và óc sáng tạo không còn là trọng tâm ở nhiều trường Đại học nữa. Việc bỏ thi giữa kỳ, hay bỏ tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nhiệp, mà đã quá lâu chỉ còn mang tính hình thức, trở thành một thực tế hợp lý. Chỉ có điều, chất lượng “đào tạo” mặc sức bị buông trôi.

- Một điều cần phải nhấn mạnh là, trong một nền kinh tế mở, khi cầu nội địa về nguồn nhân lực có kỹ năng càng bức bách, thì càng thúc đẩy các tổ chức giáo dục quốc tế đến lập các chi nhánh đào tạo tại chỗ. Nơi họ chọn để lập chi nhánh sẽ chính là những cơ sở giáo dục hàng đầu của Việt nam. Nếu nhìn như vậy, thì chỉ cần một sự định hướng đúng, là có thể làm khởi đầu một quá trình hội nhập về giáo dục của Việt nam vào mạng lưới tri thức khu vực. Theo đó, chất lượng đào tạo đội ngũ kỹ sư và kỹ thuật viên sẽ được nâng dần lên, dẫn đến một sự thu hút mạnh hơn nữa vốn đầu tư và công nghệ. Rất tiếc là cho đến nay, một cách nhìn như vậy chưa phải là quan điểm chủ đạo trong chính sách đại học Việt nam. Ngược lại, xu thế “xã hội hóa” giáo dục, mà thực chất chỉ là việc bỏ dần các chuẩn mực đào tạo, mở rộng số lượng đầu vào để tăng lợi nhuận, đang là xu thế chủ đạo

III. Một số giải pháp

Thứ nhất, cần thay đổi tư duy quản lý giáo dục đào tạo, nâng cao tính tự chủ và chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học trước xã hội và chính phủ.

Thứ hai, xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo thiết thực, hiệu quả theo nhu cầu thực tế của xã hội. Đảm bảo tính trung thực khách quan, đúng năng lực trình độ của học sinh sinh viên cũng như các cơ sở giáo dục.

Thứ ba, hình thành trung tâm nghiên cứu, đánh giá chất lượng giáo dục đại học mang tầm cở quốc tế không chịu sự chi phối của bất kỳ tồ chức chính trị xã hội nào. Nghiên cứu nhu cầu xã hội, mục tiêu phát triển của đất nước định hướng xây dựng các chương trình đào tạo cho các cơ sở giáo dục đào tạo.

Thứ tư, nhận thức đúng vai trò của đội ngủ giáo viên giảng viên và xây dựng cơ chế buộc lực lượng này tự học, tự đào tạo, tự rèn luyện làm gương cho các học sinh sinh viên. Bên cạnh có những chính sách đãi ngộ phù hợp với công sức, trí tuệ mà họ đã bỏ qua. Chính sách hỗ trợ kịp thời cho lực lượng này trong quá trình tự học, tự rèn luyện, tự nâng cao chính mình

Thứ năm, xây dựng hệ thống kỹ luật nhà trường nghiêm minh, chủ quan, công khai. Đồng thời xây dựng diễn đàn chung để biểu dương các thành tích cũng như các hình thức kỷ luật dù là nhỏ nhất, công khai trước xã hội. Sự thưởng, phạt phải được đặt ra từ trước một cách rõ ràng. Nhất là khi người thực hiện nằm quyền tự chủ cao, mà nỗ lực của họ có ảnh hưởng đáng kể tới lợi ích tập thể hoặc xã hội. Điều đó bao hàm việc cá nhân phải chịu trách nhiệm, hoặc thậm chí bị bãi miễn, nếu để xẩy ra thất bại.

AdminVKC